Về Lịch sử Văn học Phật giáo

Lịch sử văn học Phật giáo là một đề tài bao la. Bao la một mặt là vì sự đa dạng và phong phú của chính nguồn văn học này. Mặt khác, quá trình hình thành và lưu truyền văn học Phật giáo diễn ra trong khoảng thời gian khá dài. Riêng quá trình hình thành Kinh điển Pāli đã kéo dài gần cả ngàn năm. Do đó, sự đa dạng và phong phú của văn học Phật giáo, và cả sự phức tạp trong quá trình hình thành, là điều tất yếu.

Văn học Phật giáo bắt đầu với giai đoạn văn học truyền miệng, kéo dài hơn 400 năm. Sau đó, kinh luật và các nguồn tài liệu liên quan mới được viết thành văn và lưu truyền dưới nhiều ngôn ngữ cho đến ngày nay. Do vậy, muốn tìm hiểu nội dung và tư tưởng của kho tàng văn học Phật giáo, nghiên cứu một cách có hệ thống về quá trình hình thành và lưu truyền văn bản cũng như ngôn ngữ sử dụng để đọc tụng và ghi chép là một điều cần thiết.

Trong lịch sử văn học Phật giáo, thánh điển Pali gồm năm bộ (panca-nikaya) được xem là những bộ kinh ra đời sớm nhất. Năm bộ kinh này hợp thành Tạng Kinh (Sutta-pitaka).[1] Đây là phần kinh Phật mà chúng tôi xin giới thiệu sơ lược trong bài viết này.

Khoảng nửa thế kỷ về trước, trong nền học thuật Phật giáo Việt Nam, rất ít người biết đến Tạng Kinh Pali. Trong khi đó, ở phương Tây, mặc dù không có truyền thống Phật giáo như chúng ta, người ta đã bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu, sưu tầm và phổ biến hệ thống kinh điển đồ sộ này[2] ngay cả khi chúng ta còn khá mù mờ về chúng.

Hiện nay, điều kiện nghiên cứu của chúng ta đã khá hơn. Văn học kinh điển Phật giáo được sưu tầm, biên dịch và phổ biến ngày càng nhiều về số lượng và rộng về phạm vi. Tuy nhiên, so với kho tàng văn học Phật giáo bao la từ cổ chí kim, số tạm gọi là ‘nhiều’ này chẳng đáng là bao và không gian gọi là ‘rộng’ kia cũng còn trong giới hạn khá khiêm tốn. Trong khi chưa đủ điều kiện và khả năng đi sâu vào kho tàng văn học đó, chúng tôi thiết nghĩ, giới thiệu về quá trình phát triển của văn học Phật giáo, đặc biệt là sự ra đời và lưu truyền Tạng Kinh qua những công trình nghiên cứu công phu là một điều bổ ích.

Quá trình hình thành Tạng Kinh Pali

Tạng Kinh Pali như chúng ta hiện có gồm: Trường Bộ Kinh (Dīgha-nikāya), Trung Bộ Kinh (Majjhima-nikāya), Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyutta-nikāya), Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara-nikāya), và Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka-nikāya). Chúng ta sẽ triển khai chi tiết từng bộ sau. Tạng Kinh được hình thành và hoàn tất qua các giai đoạn khác nhau. Qua các giai đoạn đó, có ít nhất 4 lần Đại Hội quy mô nhằm đọc tụng, hệ thống hóa và lưu truyền lời dạy của Đức Phật. Mặc dù cho tới nay, không một sử gia nào có đủ chứng cứ để khẳng định chính xác thời điểm ra đời của Tạng Kinh, các nhà nghiên cứu phần lớn đồng ý rằng Tạng Kinh được hệ thống hóa thành bộ, với cấu trúc tương đối gần với cấu trúc của năm bộ kinh mà chúng ta có hiện nay, được tập thành vào khoảng đầu thế kỷ thứ III trước Tây lịch.[3]

Sau hơn 400 năm truyền tụng từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ Ấn Độ sang Tích Lan, những lời Đức Phật dạy được viết thành văn trên lá bối và kết thành Năm Bộ Kinh lần đầu tiên vào thế kỷ thứ I trước Tây lịch tại Tu Viện Aluvihara, thuộc Matale, Tích Lan.[4] Ngôn ngữ được sử dụng trong quá trình đọc tụng và ghi chép Tạng Kinh là Pāli.

Tạng Kinh

Trong năm bộ của Tạng Kinh, bốn bộ đầu, Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ Kinh, và Tăng Chi Bộ Kinh được hình thành sớm; nội dung và cấu trúc có tính khép từ giai đoạn truyền miệng. Một phần của bộ kinh cuối cùng, Tiểu Bộ Kinh, gồm  Kinh Tiểu Tụng (Khuddakapāṭha), Kinh Pháp Cú (Dhammapada), Kinh Phật Tự Thuyết (Udāna), Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka), Kinh Tập (Suttanipāta), Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragāthā) và Trưởng Lão Ni Kệ (Therīgāthā) cũng được sưu tập và truyền tụng tương đối sớm, có thể đồng thời với bốn bộ trước. Phần lớn của các tập còn lại, gồm Chuyện Thiên Cung (Vimānavatthu), Chuyện Ngạ Quỷ (Petavatthu), Chuyện Tiền Thân Đức Phật (Jātaka), Nghĩa Tích (Niddesa), Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga), Tập Kinh Phước Thí (Apadāna), Phật Sử (Buddhavaṃsa) và Sở Hạnh Tạng (Cariyāpiṭaka) được xem là những tập kinh được sưu tập rất muộn sau này. Nhiều phần trong các tập này có dấu hiệu được biên soạn và thêm vào sau khi kinh điển đã được biên chép thành văn.

Tài liu nghiên cu Tạng Kinh

Tạng Kinh vốn được viết thành văn bằng tiếng Pali. Để học hiểu Tạng Kinh, cách tốt nhất là học tiếng Pali và học trực tiếp Tạng Kinh ấy. Tuy nhiên, Pali là một cổ ngữ, không phải ai cũng có thể học dễ dàng để đủ đọc được kinh. Trước thế kỷ 19, chỉ có chư tăng rành tiếng Pali ở Ấn Độ, Tích Lan, sau đó là ở Miến Điện và Thái Lan, mới có khả năng học hiểu sâu Tạng Kinh này. Hàng cư sĩ học giả, ít ai nghiên cứu kho tàng pháp bảo ấy.

May thay, gần đây, Tạng Kinh đã được dịch sang tiếng Anh, tiếng Việt và nhiều thứ tiếng khác. Người không biết tiếng Pali có thể học từ các bản dịch này. Nhưng lại nữa, các bản dịch luôn có những giới hạn của nó. Nếu chúng ta đối chiếu bản dịch tiếng Anh của Trưởng Lão Nanamoli và Trưởng Lão Bodhi (The Middle Length Discourses of the Buddha) và của học giả I. B. Horner (The Collection of the Middle Length Sayings) với bản Majjhima Nikāya bằng tiếng Pāli, chúng ta sẽ thấy rằng các bản dịch không thể chuyển tải hết những ý tưởng trong văn bản gốc. Do vậy, như nước nên uống tận nguồn, đọc văn bản gốc vẫn hơn.

Trong khi không đủ điều kiện đọc văn bản gốc, chúng tôi thiển nghĩ, các công trình nghiên cứu về Tạng Kinh có thể phần nào giúp bổ khuyết cho những giới hạn nói trên. Liên quan đến Tạng Kinh, quyển Văn Học Sử Phật Giáo của học giả Cao Hữu Đính xuất bản năm 1970 dường như là quyển sách duy nhất bằng tiếng Việt bàn về Tạng Kinh Pali. Tập sách mỏng này giới thiệu về ngôn ngữ Pali, các kỳ kiết tập kinh điển và nội dung căn bản của Tạng Kinh.

Hiện nay, khi chưa có công trình nghiên cứu bằng tiếng Việt nào đi sâu hơn về quá trình hình thành Tạng Kinh. Các nghiên cứu bằng tiếng Anh có thể giúp ích. Bản dịch tiếng Anh Pali Literature and Language (Ngôn ngữ và Văn Học Pali) từ nguyên văn tiếng Đức công trình nghiên cứu của Wilhelm Geiger là một trong các công trình nghiên cứu sớm và công phu về văn học Phật giáo Pali. Geiger không những giới thiệu khá chi tiết về ngôn ngữ Pali và Tạng Kinh mà còn cung cấp những kiến thức căn bản về ngữ âm, ngữ nghĩa và văn phạm Pali.

A History of Pali Literature (Lịch Sử Văn Học Pali) của Bimala Churn Law là một công trình nghiên cứu khác rất công phu về Tạng Kinh. Trong tác phẩm này B. C. Law giới thiệu chi tiết hầu hết các kinh (trong Trường Bộ Kinh và Trung Bộ Kinh) và các chương mục (trong Tương Ưng Bộ Kinh, Tăng Chi Bộ Kinh, và Tiểu Bộ Kinh) theo sát cấu trúc vốn có của Tạng Kinh. Tác phẩm này giúp người học có thể nắm được nội dung căn bản của Tạng Kinh một cách có hệ thống.

Ngoài ra, quyển An Analytical Study of Four Nikayas (Nghiên cứu Phân tích Bốn Bộ Nikaya) của Dipak Barua cũng là một công trình nghiên cứu quan trọng thuộc dạng này. Trong khi hai tác phẩm nói trên nghiêng về tính học thuật nhiều hơn, tác phẩm này chú trọng về phương diện ứng dụng hơn. Dựa trên tính nhất quán của nội dung kinh điển, và đối chiếu với các sử liệu khác hiện có, Dipak Barua phân tích rất kỹ quá trình hình thành và lưu truyền Tạng Kinh, đặc biệt là bốn bộ đầu. Đi vào nội dung bốn bộ Nikaya, Dipak Barua chú trọng trình bày những nội dung giáo pháp Đức Phật dạy cho quần chúng. Đó là phương pháp áp dụng giáo lý giác ngộ giải thoát vào cuộc sống hàng ngày. Trước hết, tác giả giới thiệu những bài pháp dành cho cư sĩ. Dựa trên các bài pháp dành cho cư sĩ đó, tác giả phân tích chi tiết các phương diện đạo đức và tâm linh trong tương quan với cuộc sống đời thường.

Sau đó, để khẳng định tính thẩm quyền của kinh điển và nghệ thuật giáo hóa của Đức Phật, trong phần tiếp theo, tác giả trở lại bám sát kinh điển và trình bày trọng tâm giáo lý Phật giáo theo trật tự truyền thống: Giới – Định – Huệ. Đây là hệ thống rèn luyện đạo đức – thanh lặng tâm thức – khai mở trí huệ truyền thống, nhưng vẫn rất thích ứng trong xã hội hiện đại ngày nay. Phần còn lại của tác phẩm, tác giả bàn đến các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị như được Đức Phật chỉ dạy trong bốn bộ Nikaya. Đây là một tác phẩm rất thích hợp cho những ai muốn nghiên cứu văn học Phật giáo để tìm ra con đường ứng dụng Pháp Phật vào cuộc sống hằng ngày của mình nhằm mang lại an vui hạnh phúc cho mình và mọi người.

Tài liệu tham khảo

Barua, D. K. (1966/2003). An Analitical Study of the Four Nikayas. New Delhi: Munshiram Manoharlal Publishers.

Norman, K.R. (1983). Pali literature: including the canonical literature in Prakrit and Sanskrit of all the Hinayana schools of Buddhism. Wiesbaden: Harrassowitz

Geiger, W. (1943/2004). Pali Literature and Language (Trans. by B. Ghose). New Delhi: Munshiram Manoharlal Publishers.

Law, B. C. (1933/2000). A History of Pali Literature. New Delhi: Indica Books.

Văn Nguyên

 

 

[1] Tạng Kinh, cùng với Tạng Luật (Vinaya-pitaka) và Tạng Luận (Abhiddhama-pitaka) tạo thành Ba Tạng Thánh Điển Phật Giáo (Tipitaka).

[2] Các học giả phương Tây như Rhys Davids, I. B. Horner, F. H. Woodward có công rất lớn trong việc truyền bá tư tưởng Phật giáo nhờ nỗ lực biên chú va dịch các bộ kinh này sang tiếng Anh. Điều này hầu hết các nhà học Phật đều đã biết. Tuy nhiên, ít ai để ý và bàn đến sự đóng góp của các tăng sĩ học giả Phật giáo trong công cuộc biên chú, chuyển dịch và phổ biến Kinh điển Phật giáo trong thời hiện đại. Chúng tôi sẽ giới thiệu sự đóng góp này trong các số sau.

[3] Đây chỉ là mốc thời gian những bài kinh được hệ thống hóa với cấu trúc định hình và được truyền tụng có tính quy chuẩn. Bản thân các bài kinh mà Đức Phật và các đệ tử lớn của ngài thuyết đã được truyền tụng (trong các cấu trúc bài, đoạn khác nhau) từ thời ngài còn tại thế cho đến mốc thời gian này và tiếp sau đó nữa. Hay nói cách khác, nội dung của Năm Bộ Kinh đã bắt đầu hình thành từ thời Đức Phật còn tại thế, và qua các cuộc Đại Hội kiết tập kinh điển, trật tự của các bài kinh dần dần được đưa vào hệ thống như chúng ta có hiện nay. (Barua, 1996).

[4] Nyanaponika Thera and Bhikkhu Bodhi (trans. and ed.) (1999). Numerical Discourses of the Buddha: An Anthology of Suttas from the Anguttara Nikaya. Walnut Creek, CA: Altamira Press. pp.4-5.